0236.3650403 (128)

Ý nghĩa quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong tố tụng dân sự


Thứ nhất, quyền yêu cầu phản tố thể hiện nguyên tắc bình đẳng trong TTDS

Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong TTDS. Nguyên tắc này không chỉ được ghi nhận trong phap luật quốc gia mà còn được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật quốc tế. Cụ thể, Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người do Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua và công bố đã khẳng định: "Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào…". Quy định này đặt nền tảng cho việc bảo đảm sự công bằng trong mọi lĩnh vực.

Tại Việt Nam, khoản 1 Điều 8 BLTTDS quy định: “Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án”. Như vậy, nguyên tắc bình đẳng là một trong những nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt của TTDS, nhằm bảo đảm các đương sự có vị trí pháp lý ngang nhau khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ án.

Vậy, nguyên tắc bình đẳng là nguyên tắc cơ bản đã được quy định tại nhiều pháp luật trên Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đảm bảo các đương sự trong vụ án đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong tố tụng. Cho phép bị đơn thực hiện quyền “phản tố” là biểu hiện cụ thể cho nguyên tắc này.

Trên thực tế, khi nguyên đơn khởi kiện, họ ở thế chủ động và gần như đã chuẩn bị đầy đủ tâm lý, chứng cứ; tương tự đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng ở vị thế chủ động khi đưa ra yêu cầu của mình. Vì thế để tạo được thế cân bằng, đối trọng cho cả các chủ thể, pháp luật đã ban hành quyền phản tố cho bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Bị đơn được quyền chủ động, đảm bảo hai bên có cơ hội ngang nhau trong việc đưa ra yêu cầu hay chứng cứ, không bên nào ở thế yếu hơn về quyền trong tố tụng. Quyền phản tố giúp bị đơn thoát khỏi thế “chỉ phòng thủ” một cách thụ động, góp phần đảm bảo sự bình đẳng, công bằng và dân chủ trong quá trình xét xử.

Thứ hai, giúp bảo vệ quyền và lợi ích của bị đơn một cách hiệu quả

Như đã trình bày ở mục trên, nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ở thể chủ động vì đã có sự chuẩn bị từ trước, bị đơn thường bị đặt ở vị trí bị động, gây bất lợi khi chỉ phản hồi lại đơn khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Khi đó, quyền và lợi ích của họ bị ảnh hưởng mà không có “công cụ” hỗ trợ. Quyền phản tố được trao cho bị đơn giúp bị đơn không chỉ phòng thủ mà còn tấn công ngược lại nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, giúp bị đơn bảo vệ quyền lợi của mình một cách toàn diện hơn.

Về phía nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập sẽ cân nhắc, hạn chế tình trạng tuỳ tiện khi đưa ra yêu cầu khởi kiện và yêu cầu độc lập đối với bị đơn, vì bị đơn sẽ thực hiện quyền phản tố đối với họ.

Với những lí do trên, có thể khẳng định rằng phản tố là một biện pháp tố tụng giúp bị đơn bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ ba, đảm bảo giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng

Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 200 BLTTDS năm 2015, Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn”. Điều này phản ánh mục tiêu của phản tố là hướng tới quá trình giải quyết tranh chấp nhanh chóng nhưng vẫn hiệu quả.

Khi nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đưa ra đơn khởi kiện hay yêu cầu với bị đơn mà bị đơn không có quyền phản tố, Toà án sẽ giải quyết tranh chấp dựa trên đơn khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Giả sử bị đơn không thoã mãn với kết quả giải quyết của Toà án, khi đó bị đơn tiếp tục thực hiện quyền khởi tố với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, Toà án lại tiếp tục thụ lý, giải quyết vụ án dựa trên đơn khởi kiện của "bị đơn". Việc này làm cho thời gian đưa ra kết quả chính xác bị kéo dài, gây mất thời gian và công sức các bên. Việc khởi kiện riêng lẻ không chỉ ảnh hưởng tới các bên đương sự khi liên tục tham gia vào những vụ kiện kéo dài đối mặt với áp lực pháp lý mà còn ảnh hưởng tới Toà án khi phải thu thập, đánh giá lại chứng cứ nhiều lần, gây mẫu thuẫn trong việc đưa ra kết quả phán quyết.

Do sự kéo dài thời gian về tố tụng, các bên đương sự cũng sẽ phải chịu những khoản chi tương ứng như án phí, chi phí thuê luật sư, định giá tài sản,… Đặc biệt là những vụ án dân sự có yếu tố phức tạp và kéo dài thì chi phí phải trả là rất cao, ảnh hưởng đến tài chính các bên đương sự.