0236.3650403 (128)

VIỆC PHÁT TÁN ĐƯỜNG LƯỠI BÒ NHÌN TỪ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM


Kỷ nguyên số (Digital age) ra đời đã đánh dấu bước nhảy vọt từ các phương thức trao đổi thông tin truyền thống sang phương thức kỹ thuật hiện đại dưới sự hỗ trợ của Internet và mạng máy tính. Nhờ sự phát triển nhanh chóng đó, thông tin được cập nhật nhiều hơn và việc tiếp cận thông tin của người dân dễ dàng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, chính sự phát triển của kỷ nguyên số cũng là con dao hai lưỡi trong việc quản lý các nguồn thông tin đăng tải khi mà hành lang pháp lý về vấn đề này chưa thực sự rõ ràng. Đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam hiện nay, việc đấu tranh không chỉ dừng lại ở các vấn đề trên thực địa và ngoại giao mà còn diễn ra trên cả mặt trận truyền thông và thông tin. Trong số các bên tranh chấp trên Biển Đông, Trung Quốc là quốc gia đang chiếm có ưu thế hơn trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa và các vấn đề kỹ thuật số. Chính điều này đã làm cho các thông tin được truyền tải đến người dân bị nhiễu loạn, nhiều thông tin không chính xác được quốc gia này phát đi trên nhiều phương tiện  thông tin đại chúng, trong đó, nghiêm trọng nhất là việc phát tán hình ảnh đường lưỡi bò tràn lan trên các phương tiện xã hội. Nhận thức được những tác động từ vấn đề trên, bài viết này tập trung làm rõ những ảnh hưởng và bất cập trong việc phát tán đường lưỡi bò tại Việt Nam hiện nay, cũng như phân tích khung pháp luật hiện hành của Việt Nam điều chỉnh vấn đề này. Bên cạnh đó, bài viết cũng nhận diện những khó khăn thách thức đối với công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền hiện hành và đưa ra một số kiến nghị phù hợp.

Từ khóa: Kỷ nguyên số; đường lưỡi bò; chủ quyền; chiến tranh thông tin; pháp luật Việt Nam

1. Đặt vấn đề

Sự tiến bộ vượt bật với tốc độ chóng mặt của khoa học và công nghệ hiện nay, đã kéo theo sự ra đời của hàng loạt các phát minh mới, mỗi một phát minh mới tạo ra những công cụ mới đáp ứng cho các nhu cầu thiết yếu của con người và đời sống xã hội từ phương diện chính trị, quân sự đến văn hóa truyền thông. Cho dù được xem xét dưới góc độ nào thì những phát triển này đều hướng đến một mục tiêu chung là sự phát triển lớn mạnh của các quốc gia. Trong đó, không thể phủ nhận rằng, chính sự phát triển của internet và các phương tiện điện tử không chỉ được các quốc gia sử dụng trong việc hướng đến những mục tiêu phụng sự và phát triển đất nước mà còn sử dụng trong các cuộc chiến đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các quyền chủ quyền của dân tộc. Nếu các phương tiện quân sự nhắm vào các mục tiêu mang tính chất sát thương thì các phương tiện truyền thông lại nhắm mục tiêu vào nhận thức của con người, từ đó định hướng con người theo những mục tiêu mong muốn.

Trong cuộc chiến bảo vệ chủ quyền của Việt Nam, sự việc một số ấn phẩm văn hóa, công nghệ số, thậm chí là những tấm hộ chiếu tạo ra sự cảnh giác cao độ của người Việt Nam đối với mọi hoạt động liên quan Trung Quốc. Có thể nhận thấy rằng, trong thời đại kỷ nguyên số, khi mà cuộc cạnh tranh địa chính trị, địa chiến lược giữa các quốc gia không chỉ tập trung vào các hoạt động trên thực địa mà còn tập trung vào các thủ đoạn truyền thông tinh vi. Trong cuộc chiến “dài hơi” đó, bên nào chiếm ưu thế hơn trong lĩnh vực truyền thông thì bên đó sẽ có lợi hơn trong cuộc chiến tranh thông tin.

Đến thời điểm hiện tại, việc kiểm soát các thông tin được đăng tải trên mạng của Việt Nam được điều chỉnh bởi luật an ninh mạng, tuy nhiên hành làng pháp lý nêu trên là chưa đủ, bởi lẽ bằng cách này hay cách khác những hình ảnh về đường lưỡi bò vẫn được lan truyền trên không gian mạng, làm ảnh hưởng không chỉ đến nhận thức của người dân Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng quốc tế. Về lâu dài, sự bành trướng trong cuộc chiến tranh thông tin này của Trung Quốc sẽ là bất lợi lớn cho Việt Nam trong cuôn cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền Biển Đảo. Giống như Joseph Goebbels - Bộ trưởng tuyên truyền của Phát xít Đức từng nói: “Một lời dối trá nếu được lặp đi lặp lại đủ mức thì nó sẽ trở thành sự thật”, sự chiếm lĩnh về mặt thông tin của Trung Quốc sẽ tạo ra “ảo tưởng về sự thật” trong nhận thức của đại chúng, biến những điều khó tin trở nên dễ tin hơn nếu chúng được lặp đi lặp lại nhiều lần.

Bài viết này chia làm bốn phần với các nội dung chính như sau: Phần 1: Đưa ra được tổng quan tình hình, khái quát chung về đường lưỡi bò và chiến tranh thông tin của Trung Quốc; Phần 2: Làm rõ thực trạng phát tán đường lưỡi bò củaTrung Quốc trên không gian mạng và những ảnh hưởng của hành động này đến Việt Nam; Phần 3: Phân tích và đánh giá hoạt động phát tán được lưỡi bò dưới góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam hiện hành; và cuối cùng Phần 4: đưa ra kết luận và một số kiến nghị đối với Việt Nam.

2.  Khái quát về đường lưỡi bò và chiến tranh thông tin của Trung Quốc

2.1. Đường lưỡi bò - quá khứ và hiện tại

Đường lưỡi bò hay còn gọi là đường chín đoạn (giản thể: 九段线; phồn thể: 九段線; tiếng Anh: Nine-dash line; Hán-Việt: Cửu đoạn tuyến)  là tên gọi dùng để chỉ vùng biển tại Biển Đông mà Trung Quốc chủ trương và đơn phương tuyên bố chủ quyền. Yêu sách này đặt ra đối với một vùng biển chạy sát bờ biển của các nước có chung Biển Đông, có đoạn chỉ cách bờ biển Việt Nam khoảng 50 đến 100 km. Đường này còn chạy sát bãi James Shoal (Tăng Mẫu) của Malaysia và đảo Natuna của Indonesia, đảo Luzon thuộc quần đảo Philippines và chiếm đến 80% diện tích Biển Đông.

Đường lưỡi bò xuất hiện lần đầu tiên dưới thời chính quyền Tưởng Giới Thạch, trong phụ lục “Bản đồ vị trí các đảo Nam Hải” của “Bản đồ khu vực hành chính Trung Hoa Dân Quốc”. Tuy nhiên, phải đến năm 2009, khi Trung Quốc gửi công hàm lên Tổng Thư ký Liên Hợp quốc phản đối việc Việt Nam và Malayxia nộp Báo cáo chung về ranh giới ngoài thềm lục địa của mình cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp quốc theo quy định của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982, thì quan điểm  về yêu sách đường lưỡi bò này mới được công bố chính thức với toàn thế giới. Trong công hàm ngày 7/5/2009 Trung Quốc viết: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa (tức biển Đông) và các vùng nước phụ cận, và có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất đáy biển ở đó (kèm theo bản đồ). Đây là quan điểm nhất quán của chính phủ Trung Quốc và đã được biết đến rộng rãi trong cộng đồng quốc tế”.

Yêu sách của Trung Quốc đối với đường lưỡi bò này là phi lý và đã bị Việt Nam, Indonesia, Philippines và Hoa Kỳ công khai bác bỏ, đồng thời bị nhiều học giả quốc tế chỉ trích. Đáng chú ý là yêu sách về vùng nước lịch sử bên trong đường lưỡi bò đã bị phán quyết trọng tài Biển Đông do Tòa trọng tài thành lập theo phụ lục VII Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 bác bỏ vào tháng 7/2016.

Đến thời điểm hiện tại, Trung Quốc vẫn chủ trương bác bỏ phán quyết trọng tài Biển Đông, tuy nhiên để tránh sức ép từ cộng đồng quốc tế, quốc gia này đã “thay áo mới” cho yêu sách đường lưỡi bò bằng yêu sách Tứ Sa, yêu sách này được công bố trong các Công hàm số CML/14/2019 và Công hàm số CML/11/2020 gửi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc. Nội dung của yêu sách Tứ Sa bao gồm 3 điểm:

(1) Trung Quốc có “chủ quyền không thể chối cãi” đối với Nam Hải Chư đảo, bao gồm Đông Sa, Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam), Nam Sa (quần đảo Trường Sa của Việt Nam) và Trung Sa (bãi ngầm Macclesfield);

(2) Các nhóm đảo này là quần đảo và được sử dụng đường cơ sở thẳng để xác định đường cơ sở và vùng nước quần đảo; và

(3) Các nhóm đảo này có vùng nước quần đảo, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa tính từ đường cơ sở thẳng. 

Như vậy, đến thời điểm hiện tại, về cơ bản phạm vi vùng biển trong yêu sách đường lưỡi bò trước đó của Trung Quốc vẫn được giữ nguyên trong yêu sách Tứ Sa và đường lưỡi bò vẫn đang được quốc gia này phát tán dưới nhiều hình thức khác nhau.

2.2. Chiến tranh thông tin của Trung Quốc

Chiến tranh thông tin là một chiến lược bao gồm các hoạt động công khai và bí mật được tạo lập nhằm chi phối truyền thông gây ảnh hưởng, lèo lái dư luận quốc tế theo hướng ủng hộ Trung Quốc, đồng thời phủ nhận những luồng tư tưởng của đối thủ gây bất lợi cho Trung Quốc, đồng thời gây nhiễu tất cả các quan điểm trái chiều. 

Việc sử dụng chiến tranh thông tin trong cuộc chiến chủ quyền được Quân đội Nhân dân Trung Quốc đưa ra trong chiến lược “Tam chủng chiến pháp” và sau đó được Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quân ủy Trung ương chính thức phê chuẩn năm 2003. Chiến lược này bao gồm gồm chiến tranh tâm lý (Psychological warfare), chiến tranh thông tin (Media warfare) và chiến tranh  pháp lý (Legal warfare). Cả ba loại hình này tương hỗ, bổ trợ cho nhau trong việc củng cố thêm yêu của Trung Quốc.

Trong cuộc chiến chủ quyền trên Biển Đông, chiến tranh thông tin được Trung Quốc sử dụng như một mặt trận chính để bành trướng cho yêu sách đường lưỡi bò và các yêu sách chủ quyền phi lý khác của Trung Quốc trên Biển Đông. Là một quốc gia với tốc độ phát triển “chóng mặt” trong thời đại kỹ nguyên số, ngành công nghiệp truyền thông của quốc gia này cũng đạt được những thành tựu đáng kể trên trường quốc tế, trong đó có thể kể đến các tác phẩm điện ảnh và âm nhạc. Qua đó, đã giúp quốc gia này chiếm ưu thế hơn trên mặt trận thông tin, đặc biệt hơn cả là trong cuộc chiến tranh thông tin về các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông.

Chung quy lại, có thể  nhận thấy mục tiêu của Trung Quốc trong việc tích cực thực hiện chiến tranh thông tin trong chiến lược tam chủng chiến pháp về các vấn đề có liên quan đến Biển Đông nhằm:

(1) Định hướng dư luận quốc tế và trong nước, từng bước chấp nhận các yêu sách phi lý của Trung Quốc như yêu sách vùng biển bằng quyền lịch sử dưới hình thức đường lưỡi bò và các yêu sách với các đảo, đá, bãi ngầm được gọi là Tứ Sa và các văn bản hành chính thành lập Tam Sa, Tứ Sa.

(2) Củng cố cho các luận điểm phi pháp và các hoạt động bất hợp pháp của lực lượng chấp pháp Trung Quốc tại các vùng biển có tranh chấp với nước khác, như tìm cách giải thích nhằm bác bỏ quyền tự do hàng hải và không cho phép các cuộc diễn tập quân sự, cũng như các hoạt động biển của các nước tại các vùng biển “thuộc quyền tài phán Trung Quốc”, thể hiện trong Luật Cảnh sát biển và Luật An ninh hàng hải sửa đổi năm 2021 của nước này.

(3) Đối phó với dư luận quốc tế, tạo ưu thế trong đàm phán và tuyên truyền như việc Trung Quốc tuyên truyền không chấpnhận thẩm quyền của Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông, không chấp nhận phán quyết và không thực thi phán quyết.

Tóm lại, chiến tranh thông tin là một chiến thuật “mưa dầm thấm lâu” của Trung Quốc, lợi dụng sự phát triển của các phương tiện truyền thông trong thời đại kỷ nguyên số nhằm đẩy mạnh hiệu quả truyền thông của Trung Quốc về các luận điệu phi lý của quốc gia này. Từ đó, thông qua việc kết hợp với chiến tranh pháp lý và chiến tranh tâm lý trong tam chủng chiến pháp tạo ra thế phủ đầu áp đảo và cô lập Việt Nam trên trường quốc tế, bởi lẽ hầu hết các quốc gia khác đều không có lợi ích trực tiếp trong các tranh chấp ở Biển Đông này.

  1. Thực trạng phát tán đường lưỡi bò và những ảnh hưởng đến Việt Nam

3.1. Thực trạng phát tán đường lưỡi bò của Trung Quốc

Như đã phân tích, đường lưỡi bò là một trong những yêu sách chính yếu của Trung Quốc tại Biển Đông, các tranh chấp về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng cũng như các tranh chấp khác có liên quan  hiện này phần lớn cũng nằm trong phạm vi đường lưỡi bò đã được Trung Quốc vạch định. Do đó, việc phát tán rộng rãi hình ảnh đường lưỡi bò là phương thức mà Trung Quốc đang theo đuổi.

Mặc dù yêu sách đường lưỡi bò được Trung Quốc đưa ra từ khá sớm, tuy nhiên việc phát tán hình ảnh của yêu sách chỉ được quốc gia này tập trung vào khoản năm 2012, trong bối cảnh các tranh chấp tại Biển Đông đang được các bên và dư luận quốc tế quan tâm. Trong đó, động thái đầu tiên của quốc gia này là công bố và cho phát hành mẫu hộ chiếu phổ thông mới, trong đó có in hình bản đồ “đường 9 đoạn” (hay còn gọi là “đường lưỡi bò”) đòi hỏi chủ quyền hầu như toàn bộ biển Đông, cùng đảo Đài Loan và hai vùng lãnh thổ tranh chấp với Ấn Độ vào ngày 22/11/2012.  Liên tục sau đó, quốc gia này áp dụng nhiều hình thức phát tán khác nhau trên thực tiễn cũng như không gian mạng nhằm bành trướng hóa chiến lược hình ảnh của mình, đặc biệt là vào các thời điểm nóng của tranh chấp Biển Đông. Các phương thức phát tán hình ảnh đường lưỡi bò chính của Trung Quốc bao gồm:

(1) Phát tán thông qua hộ chiếu:

Như đã phân tích, việc phát tán hình ảnh đường lưỡi bò thông qua việc phát hành mẫu hộ chiếu mới của Trung Quốc được xem là lời thách thức chính thức của quốc gia này với dư luận quốc tế và các bên có liên quan đến tranh chấp. Bởi lẽ, việc chấp nhận thị thực nhập cảnh của các công dân sử dụng hộ chiếu có đường lưỡi bò cũng được xem như một sự ngầm thừa nhận cho yêu sách phi lý của quốc gia này. Đến thời điểm hiện tại, mặc dù bị rất nhiều quốc gia trên thế giới phản đối nhưng Trung Quốc vẫn chưa có bất kỳ động thái nào về việc thu hồi tấm hộ chiếu nêu trên,  bất chấp những khó khăn của công dân Trung Quốc trong việc nhập cảnh vào các quốc gia khác.

(2) Phát tán thông qua các vật phẩm thông dụng và trang phục:

Bên cạnh việc sử dụng hộ chiếu, các du khác Trung Quốc còn đẩy mạnh chiến lược hình ảnh của mình thông qua các vật phẩm thông dụng, đồ lưu niệm và trang phục, nhằm tăng cường độ hiện diện trong nhận thức của đại chúng. Trong đó, phổ biến nhất là việc thông qua sự ảnh hưởng của các cộng đồng dân cư Trung Quốc ở nước ngoài, các du khách Trung Quốc mặc trang phục có in bản đồ đường lưỡi bò như một cách thức đẩy mạnh chiến lược hình ảnh của quốc gia mình. Việc sử dụng những vật phẩm và trang phục như vậy là một bất cập lớn cho Việt Nam, bởi lẽ, như đã phân tích tranh chấp Biển Đông không ảnh hưởng nhiều đến lợi ích của đại đa số các quốc gia trên trường quốc tế, do đó việc nhận diện về đường lưỡi bò không được người dân các quốc gia này quan tâm, đặc biệt, nếu như có bất kỳ động thái nào bất lợi quan đến du khách người Trung Quốc, chính các quốc gia này cũng bị ảnh hưởng về lợi nhuận đối với ngành du lịch của quốc gia họ, nên việc ngăn chặn hình ảnh đường lưỡi bò thông qua hình thức này gặp nhiều khó khăn.

Tại Việt Nam, ngày 17/5/2018, một nhóm khách người Trung Quốc mặc áo có in bản đồ đường lưỡi bò tại sân bay Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, trả lời phỏng vấn của báo chí, ông Nguyễn Văn Tuấn, Tổng cục trưởng, Tổng cục du lịch Việt Nam lại cho rằng “Tinh thần chung của chúng tôi là xử lý mềm dẻo để không vì những sự việc đó làm ảnh hưởng dến đại cục, ảnh hưởng đến hợp tác du lịch”. Như vậy có thể thấy, nhận thức của Việt Nam về vấn đề trên vẫn chưa thực sự đồng bộ, gây ảnh hưởng đến định hướng đấu tranh liên ngành trong bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

(3) Phát tán thông qua nghiên cứu khoa học và giáo dục

Một trong những chiến lược truyền thông và phát tán hình ảnh đường lưỡi bò khác của Trung Quốc  là thông qua các hoạt động khoa học và giáo dục, mặc dù so với các hình thức phát tán ảnh ảnh khác, nhóm biện pháp này có hiệu ứng không cao. Tuy nhiên, trong một mối liên hệ tổng thể, khoa học và giáo dục là cốt lõi nhận thức của  xã hội, thay đổi được nhận thức trong khoa học và giáo dục cũng sẽ thay đổi nhận thức của thế hệ. Chính vì vậy, đây cũng là một trong những sách lược mà Trung Quốc tập trung vào.

Khảo sát sơ bộ của tác giả đã tìm thấy 260 bài viết sử dụng đường chín đoạn trên 20 tạp chí khoa học nổi bật thuộc sở hữu của các nhà xuất bản khác nhau, bao gồm Springer's Nature, Science, Elsevier và Multisurgical Digital Publishing Institute . Những tạp chí được bình duyệt này có uy tín về mặt học thuật, có chỉ số tác động cao và thường xuyên được tham khảo và trích dẫn.  Trước năm 2009, đường chín đoạn hiếm khi xuất hiện trong các bài báo khoa học. Nhưng số lượng bài báo được minh họa bằng dòng này đã tăng mạnh và đều đặn kể từ năm 2010. Cuộc điều tra tương tự chỉ tìm thấy 10 bài báo, bao gồm cả năm 2010, 60 bài vào năm 2018 và 90 bài chỉ trong nửa đầu năm 2019. Xu hướng này tiếp tục sang năm 2020, bao gồm một loạt các ngành khoa học cứng bao gồm biến đổi khí hậu, thủy văn, khảo cổ học, nông nghiệp, năng lượng sinh học, môi trường, quản lý chất thải và y tế công cộng. Nội dung các bài báo cũng đa dạng, gồm thủy văn học, biến đổi khí hậu, nông nghiệp, khảo cổ, năng lượng, môi trường, chất thải, sức khỏe… Trên thực tế, số bài báo khoa học được Trung Quốc có chứa hình ảnh đường lưỡi bò còn nhiều hơn con số đã được thống kê. 

Không dừng lại ở các công bố khoa học, đường lưỡi bò của Trung Quốc còn xuất hiện trong các sách, địa cầu, dùng trong giáo dục, … nghiêm trọng hơn một số sách giáo khoa này, còn vượt qua vòng kiểm duyệt và được sử dụng trong các trường đại học của Việt Nam.  Có thể kể đến như: việc Trung Quốc thống nhất việc sử dụng sách giáo khoa cho học sinh toàn quốc vào năm 2019,  trong đó sách Lịch sử lớp 7 và 8 có nhiều nội dung về lãnh thổ Trung Quốc được bổ sung. Khi nói đến việc mở rộng lãnh thổ thời nhà Nguyên, các sách giáo khoa này nhấn mạnh: “Tân Cương, Tây Tạng, Vân Nam, các tỉnh Đông Bắc, Đài Loan và các đảo thuộc Nam Hải (Biển Đông của Việt Nam - người dịch) đều đã thuộc quyền cai quản của Trung Quốc từ thời Nguyên”.

Ở Việt Nam, một số chương trình giảng dạy có liên quan đến ngôn ngữ Trung và văn hóa Trung Quốc cũng sử dụng hình ảnh đường lưỡi bò trái phép, điều này không chỉ xuất phát từ khâu kiểm duyệt chưa nghiêm mà còn bị ảnh hưởng bởi hệ thống giáo trình được tham chiếu của Trung Quốc tràn lan hình ảnh đường lưỡi bò phi lý này, gây nhiễu thông tin đối với người biên soạn và trích dẫn. Cụ thể, trường Đại học Kinh doanh và công nghệ Hà Nội đã đưa vào giảng dạy đối với sinh viên khoa Trung - Nhật giáo trình có bản đồ có “đường lưỡi bò”, hình ảnh trái phép này nằm trong trang 36 cuốn Đọc và trang 32 cuốn Nghe sơ cấp 1 “Developing Chinese”. Điều đáng nói là cán bộ, giảng viên Nhà trường đã đưa giáo trình này vào giảng dạy nhiều năm liền mà vẫn không biết về sự việc cho đến khi sinh viên báo cáo lên. Khi được yêu cầu giải trình về vấn đề này, Trường đại học kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trả lời, việc đưa giáo trình có đường lưỡi bò vào sử dụng là do có tham khảo giáo trình gốc do đối tác là một trường đại học Trung Quốc gửi tặng. Như vậy, có thể nhận thấy chính thực trạng phát hành tràn lan đường lưỡi bò của Trung Quốc đã tác động trực tiếp đến việc tiếp nhận và biên soạn các tài liệu giảng dạy đối với các môn học có liên quan đến quốc gia này.

Chính sự chiếm lĩnh về khoa học và giáo dục sẽ tác động trực tiếp đến nhận thức của các thế hệ tiếp nhận, dẫn đến những tư duy sai lệch về vấn đề chủ quyền, lãnh thổ. Dưới góc độ của Việt Nam trách nhiệm sẽ thuộc về Nhà trường, còn đối với các quốc gia khác sẽ không có bất kỳ hành lang pháp lý nào được đưa ra, bởi lẽ chính bản thân các quốc gia này cũng không phải là một bên có tranh chấp, đây là một bất lợi rất lớn cho Việt Nam trong cuộc chiến trường kỳ ở Biển Đông.

(4) Phát tán thông qua phim ảnh, giải trí

Năm 2018, doanh thu phòng vé tại thị trường Trung Quốc vượt mốc 60 tỷ nhân dân tệ (khoảng 9,34 tỷ USD), tăng gần 9% so với năm 2017 và chỉ thua thị trường Bắc Mỹ khoảng 2,5 tỷ USD.  Với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ như hiện nay, điện ảnh Trung Quốc được dự báo hoàn toàn có thể trở thành thị trường điện ảnh lớn nhất thế giới. Theo đó, Trung Quốc cũng đang theo đuổi tham vọng trở thành thị trường điện ảnh số một thế giới, chính sự lớn mạnh của điện ảnh Trung Quốc cũng làm cho ngành công nghiệp giải trí của quốc gia này có những bước tiến vượt bậc, thống lĩnh thị trường khu vực và thế giới.

Lợi dụng ưu thế này của mình, Trung Quốc cũng lồng ghép khá nhiều hình ảnh đường lưỡi bò vào trong các sản phẩm giải trí mà quốc gia này công bố với mưu đồ “không đánh mà thắng” gây ra những hiểu lầm của người dân thông qua các “cơn sốt thần tượng”, bởi lẽ văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận. Việc Trung Quốc đưa đường lưỡi bò vào các sản phẩm văn hóa, điện ảnh, giải trí… không chỉ nóng ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước như Nhật Bản, Philippines, mà còn gây ảnh hưởng tại các thị trường điện ảnh, giải trí khác của Trung Quốc. Việc đưa đường lưỡi bò vào các ấn phẩm tưởng chừng “phi chính trị” nhưng thực chất đó là một phần quan trọng trong chiến lược của Trung Quốc nhằm thuyết phục công chúng trong nước và thế giới biến đường lưỡi bò từ “phi lý” trở nên “có lý”.

Hàng loạt bộ phim có sử dụng hình ảnh đường lưỡi bò được công chiếu và tạo dựng được tiếng vang như:  Phim Barbie năm 2023, Hướng gió mà đi (Flight to you) năm 2022, Uncharted (Thợ săn cổ vật) năm 2022, Everest: Người tuyết bé nhỏ năm 2019, Em là thành trì doanh lũy của anh năm 2021, Điệp vụ Biển Đỏ năm 2018, … Nhng tác phẩm điện ảnh này không chỉ được công chiếu tại nhiu quốc gia trên thế giới mà còn vượt qua vòng kiểm duyệt để được chiếu trên các nền tảng tại Việt Nam. 

Không dừng lại ở đó, Trung Quốc còn thông qua sức ảnh hưởng của các thần tượng giải trí xây dựng một chiến lược phát tán hình ảnh đường lưỡi bò trên các nền tảng mạng xã hội, gây sức ảnh hưởng đối với cộng đồng người hâm mộ của các nghệ sĩ này. Gần như toàn bộ các sao đang hoạt động tại Đại lục đều đã chia sẻ hình ảnh/bài viết ủng hộ. Ngoài ra, các sao Trung làm việc tại thị trường Hàn Quốc cũng không nằm ngoài danh sách này. Từ thực tiễn  chia sẻ các hình ảnh về đường lưỡi bò có thể thống kê được con số nghệ sĩ nổi tiếng tham gia vào vấn đề này khoảng 40 người, trong đó có nhiều ngôi sao nổi tiếng thế giới như: Thành Long, Lục Tiểu Linh Đồng, Phạm Băng Băng, Địch Lệ Nhiệt Ba, Huỳnh Hiểu Minh, Angela Baby …

(5) Phát tán thông qua hệ thống bản đồ

Một trong những hình thức phát tán hình ảnh đường lưỡi bò khác của Trung Quốc là thông qua hệ thống bản đồ quảng bá và định vị. Như đã biết, thị trường Trung Quốc là một thị trường giàu tiềm năng, hiện nay tốc độ phát triển dân số của quốc gia tỷ dân này đang đứng số một thế giới, do đó việc các thương hiệu lớn sử dụng hình ảnh đường lưỡi bò trên website của họ cũng là cách thức mà Trung Quốc tạo ra sức ép đến các quốc gia có liên quan trên phương diện truyền thông. Hiện nay, Website tiếng Trung của nhiều thương hiệu lớn như Uniqlo, Mercedes, Gucci, Chanel... sử dụng hình ảnh bản đồ Trung Quốc có “đường lưỡi bò”. Mới đây, website của iME - đơn vị tổ chức show diễn của ban nhạc Black Pink có trụ sở ở Trung Quốc - cũng đăng tải hình ảnh “đường lưỡi bò” phi pháp.

Ngoài ra, với sự phát triển của kỹ thuật, Trung Quốc cũng cho ra đời nhiều công nghệ mới như ô tô, thiết bị điện tử, và các app công nghệ, hầu hết các sản phẩm này đều có hệ thống định vị sử dụng bản đồ đường lưỡi bò của Trung Quốc.

Việc Trung Quốc tăng cường độ nhận diện thông qua hệ thống bản đồ như vậy từ lâu đã nằm trong chiến lược bành trướng trên không gian mạng của quốc gia này. Tại Điều 33, Luật số 75, Luật Đo đạc và Bản đồ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2002 quy định:

“Chính quyền nhân dân các cấp tăng cường quản lý việc biên soạn, in ấn, xuất bản bản đồ, bảo đảm chất lượng bản đồ, bảo vệ chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia. Các biện pháp cụ thể sẽ do Hội đồng Nhà nước xây dựng. Chính quyền nhân dân các cấp tăng cường tuyên truyền, giáo dục ý thức về lãnh thổ nhà nước, tăng cường, ý thức công dân về lãnh thổ nhà nước.”

Trung Quốc, cũng khá khắt khe trong việc đưa vào công bố và sử dụng hệ thống bản đồ có liên quan đến quốc gia này. Trước đó Trung Quốc cũng đã từng tịch thu và tiêu hủy hàng loạt bản đồ được phát hành không có đường lưỡi bò cũng như  không bao gồm một số quần đảo tranh chấp mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, chẳng hạn như quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông, cũng như quần đảo ở Biển Hoa Đông mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư, trong khi Nhật Bản gọi là Senkaku.

    1. Những ảnh hưởng của việc phát tán đường lưỡi bò đối với Việt Nam

Có thể khẳng định, tình hình tranh chấp Biển Đông vẫn luôn là một đề tài nóng, bởi lẽ lợi ích dân tộc và chủ quyền quốc gia là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Do đó, cuộc chiến truyền thông của trung quốc vẫn là một bất lơi lớn đối với Việt Nam trên nhiều bình diện cả về văn hóa, kinh tế lẫn ngoại giao và chủ quyền dân tộc.

Trước hết trên bình diện văn hóa, thông qua việc phát tán đường lưỡi bò và các công tác truyền thông khác nhằm hiện thực hóa chiến tranh thông tin và tam chủng chiến pháp của Trung Quốc, từ đó dần dần thay đổi nhận thức của người dân về vấn đề tranh chấp trên Biển Đông. Đặc biệt, những xâm chiếm và ảnh hưởng của sách giáo khoa và các nghiên cứu khoa học cũng tác động đến tư duy và nhận thức của người dân. Không dừng lại ở đó, chính những xung đột trong các lợi ích kinh tế và lợi ích dân tộc trên các phương tiện có chứa đường lưỡi bò cũng gây bất đồng trong dư luận Việt Nam, không tạo được sự thống nhất trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền. Mục đích chung mà chiến lược phát tán này hướng đến lợi dụng internet và mạng xã hội để đưa các thông tin tuyên truyền sai sự thật, xuyên tạc về tình hình biển Đông là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân trong vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Trên bình diện kinh tế, việc Trung Quốc thông qua dư luận lồng ghép vào các hoạt động du lịch như hộ chiếu, trang phục, … cũng làm ảnh hưởng đến ngành du lịch của Việt Nam, các ngành kinh doanh khác cũng sử dụng bản đồ có hình ảnh đường lưỡi bò gây ảnh hưởng đến việc hợp tác về kinh tế của Việt Nam đối với các đối tác lớn. Có thể thấy rõ, Trung Quốc là một trong những cường quốc hàng đầu khu vực và thế giới, những lợi ích mà thị trường Trung Quốc cũng như các doanh nghiệp Trung Quốc đem lại có thể chi phối đến việc phát tán đường lưỡi bò của các doanh nghiệp, điều này cũng tác động đến các doanh nghiệp Việt Nam có hợp tác với Trung Quốc.

Trên bình diện đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam, việc phát tán đường lưỡi bò là một trong những phương thức nhằm cũng cố yêu sách phi lý của Trung Quốc trên Biển Đông, áp đảo và định hướng dư luận theo những sách lược mà quốc gia này đề ra. Sự lớn mạnh của truyền thông Trung Quốc trong thời đại kỷ nguyên số cũng tạo ra một hành lang dư luận lớn đứng về những luận điệu phi lý và phớt lờ luật pháp quốc tế của quốc gia này.

4. Vấn đề đường lưỡi bò trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam

4.1. Khung pháp lý điều chỉnh vấn đề đường lưỡi bò

Hiện tại, một trong những căn cứ pháp lý để Việt Nam có niềm tin chống lại yêu sách đường lưỡi bò phi lý của Trung Quốc là pháp luật quốc tế. Khẳng định một lần nữa, yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc là không phù hợp với pháp luật quốc tế và Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982. Trong phán quyết Trọng tài Biển Đông năm 2016, Tòa trọng tài thành lập theo phụ lục VII, Toà Trọng tài kết luận rằng “không có cơ sở pháp lý để Trung Quốc yêu sách quyền lịch sử đối với tài nguyên tại các vùng biển phía bên trong “đường chín đoạn””.  Đối với yêu sách Tứ Sa mới của Trung Quốc thay thế yêu sách đường lưỡi bò bằng cách vạch ra đường cơ sở quần đảo cho các đảo thuộc Tứ sa, cũng vẫn là một yêu sách phi lý, Việt Nam hoàn toàn có quyền bác bỏ yêu sách trên.  Theo quy định của UNCLOS, có ba loại đường cơ sở cơ bản: đường cơ sở thông thường (normal baselines), đường cơ sở thẳng (straight baselines) và đường cơ sở quần đảo (archipelagic baselines), trong đó đường cơ sở quần đảo chỉ được áp dụng đối với quốc gia quần đảo, do đó Trung Quốc hoàn toàn không có quyền vạch định đường cơ sở quần đảo đối với các quần đảo thuộc Tứ Sa như nước này công bố.

Như vậy, có thể nhận thấy, đường lưỡi bò dưới phương diện pháp lý quốc tế là hoàn toàn phi pháp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến Việt Nam. Do đó, dưới góc độ của Việt Nam việc ngăn chặn và xử lý các hành vi phát tán đường lưỡi bò là phù hợp đồng thời cần thiết hoạt động đánh giá lại khung pháp lý hiện hành của về vấn đề này, từ đó kịp thời ngăn chặn và xử lý các hành vi cố ý phát tán gây ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền.

Liên quan đến hành vi phát tán đường lưỡi bò hiện được điều chỉnh bởi hệ thống các văn bản Luật và dưới luật sau đây:

(1) Hiến phápViệt Nam 2013: Đóng vai trò nền tảng trong việc xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam, Hiến pháp Việt Nam đã có những quy định mang tính chất chỉ đạo và định hướng toàn bộ các hoạt động trong đời sống xã hội. Tại Điều 11, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 khẳng định:

“1. Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

2. Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị.”

Đây cũng là cơ sở, cho việc ban hành các văn bản luật và dưới luật có liên quan để hướng đến việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam nói chung và chủ quyền Biển Đảo Việt Nam nói riêng.

(2) Các văn bản luật: Hiện tại liên quan đến việc phát tán đường lưỡi bò có 02 văn bản luật điều chỉnh bao gồm: Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015, và Luật Điện ảnh năm 2022.

Nếu như Bộ luật hình sự  năm 2015 hình sự hóa các tội phạm có dấu hiện xâm phạm đến chủ quyền và an ninh quốc gia thì Luật Điện ảnh  năm 2022 lại điều chỉnh các hoạt động liên quan đến quản lý nhà nước về điện ảnh, bao gồm cả việc cấp và phát sóng các bộ phim có chứa hình ảnh đường lưỡi bò.

(3) Các văn bản dưới luật: Để điều chỉnh chi tiết hơn việc phát tán hình ảnh đường lưỡi bò trong các hoạt động của quần chúng nhân dân, Chính phủ Việt Nam cũng cho ra đời các nghị định có liên quan như:

(i) Nghị định 159/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản;

(ii) Văn bản hợp nhất số 5349 ban hành ngày 30/12/2015 của Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch về Quy chế thẩm định và cấp giấy phép phổ biến phim;

(iii) Nghị định 38/2021/NĐ-CP về Xử phát vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo;

(iv) Nghị định 18/2020/NĐ-CP về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ;

(v) Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử;

(vi) Nghị định số 71/2022/NĐ-CP (Nghị định 71) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/2016/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình;

(vii) Nghị định 128/2022/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 38/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực văn hóa và quảng cáo đã được sửa đổi bởi Nghị định 129/2021/NĐ-CP sửa đổi Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực du lịch; thể thao; quyền tác giả, quyền liên quan; văn hóa và quảng cáo; Nghị định 128/2020 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan;

(viii) Nghị định 119/2020/NĐ-CP quy định về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản.

Có thể nhận thấy, mặc dù chưa có một hệ thống văn bản pháp luật riêng biệt để điều chỉnh hoạt động phát tán đường lưỡi bò hiện nay, tuy nhiên vấn đề này cũng đã được Nhà nước Việt Nam quan tâm và lồng ghép vào trong hệ thống các văn bản luật, dưới luật ở các lĩnh vực có liên quan như điện ảnh, báo chí, xuất bản, bưu chính, viễn thông, … Điều này đã tạo ra hành lang pháp lý để xử lý các vi phạm hiện hành, ngăn chặn việc phán tán các hình ảnh trái với pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.

4.2. Đánh giá chung về khung pháp lý hiện hành của Việt Nam

So với thực trạng phát tán đường lưỡi bò hiện nay, có thể nhận thấy rằng mặc dù Việt Nam đã có những quy định pháp lý điều chỉnh và xử lý vi phạm đối với các bên có liên quan, tuy nhiên số lượng văn bản dường như chưa đủ, và chưa điều chỉnh trực tiếp đến vấn đề trọng yếu về chủ quyền quốc gia, nên gây khó khăn cho các cơ quan chuyên trách trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan. Bên cạnh những điểm tích cực mà hệ thống pháp luật hiện hành về vấn đồ phát tán đường lưỡi bò đem lại, bài viết này tập trung vào các điểm hạn chế để từ đó hoàn thiện hơn hệ hống pháp luật của Việt Nam, hướng đến mục tiêu bảo vệ vững chắc chủ quyền của dân tộc.

(1) Thiếu vắng cơ chế của một chế tài hình sự: Như đã phân tích Bộ Luật hình sự Việt Nam năm 2015 tại chương XIII về Các tội xâm phạm an ninh quốc gia cũng có quy định về các hành vi xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Tuy nhiên hiện tại việc phán tán đường lưỡi bò chưa đủ yếu tố để cấu thành các tội phạm theo chương XIII, do đó, các vi phạm về hành vi nêu trên chỉ mới đang được xử lý ở mức độ hành chính. Chính vì vậy, trong một số trường hợp các bên có liên quan nhận thức được mối nguy hại của việc phát tán đường lưỡi bò những vẫn “nhắm mắt làm ngơ” vì những mục đích kinh tế khác.

(2) Mức xử phạt hành chính hiện hành chưa đủ sức răn đe:

Theo Điều 8 Nghị định 38/2021/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo, mức xử phạt cao nhất đối với hành vi vi phạm quy định về phổ biến phim là 50 triệu đồng. Tuy nhiên trên thực tế, nếu như không bị phát hiện và cấm chiếu các doanh nghiệm có thể thu về lợi nhuận nhiều hơn rất nhiều so với mức xử phạt nêu trên.   Tương tự như vậy, Điều 25 Nghị định 119/2020/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về trình bày, minh họa xuất bản phẩm và ghi thông tin phải ghi trên xuất bản phẩm cũng quy định mức phạt tối đa đối với các hành vi này là 20 triệu đồng. Rõ ràng mức xử phạt hành chính nêu trên là chưa đủ sức răn đe, bởi lẽ theo Hiến pháp Việt Nam tội nặng nhất là tội phản bội Tổ quốc. Các lợi ích quốc gia và dân tộc phải được đặt lên trên các lợi ích kinh tế cũng như các mục tiêu xã hội khác. Cần có một chế tài nghiêm trị, đủ sức răn đe hơn nữa, để ngăn ngừa các hành vi phát tán đường lưỡi bò gây bất bình và hoang mang trong dư luận.

(3) Các công cụ pháp lý chưa đủ để xử lý các trang web lậu:

Hiện nay bên cạnh các kênh thông tin truyền thông chính thống được đăng ký hoạt động và kiểm duyệt bởi cơ quan có thẩm quyền, khá nhiều trang web chiếu phim lậu cũng như các tài khoản mạng xã hội ẩn danh hoạt động tràn lan trên các phương tiện truyền thông, chính các kênh thông tin này cũng phát tán và đăng tải những bộ phim, video, hình ảnh có chứa đường lưỡi bò, nhưng chưa được xử lý. Việc xác minh chủ tài khoản và ngăn chặn các trang web như trên vẫn còn nhiều bất cập, do đó, vẫn còn nững hiện trạng các bộ phim được cấm kiếm và xử lý trên nền tảng chính lại tiếp tục xuất hiện trên các trang web ẩn danh, và tiếp cận đến người xem. Chính vì vậy, việc xây dựng một hành lang pháp lý nghiêm minh hơn là hoàn toàn cần thiết để tránh các trường hợp các trang web khi được báo cáo sai phạm bị gỡ bỏ rồi sau đó những tài khoản mới vẫn tiếp tục được lập ra với mục đích tương tự.

  1. Cơ chế kiểm soát và chịu trách nhiệm của các bên có liên quan cần chặt chẽ hơn:

Từ sự việc giáo trình được kiểm duyệt đúng trình tự đã đưa vào giảng dạy, hay như việc Luật Điện ảnh đã ban hành quy định về việc rà soát các nội dung phim trước khi phát sóng nhưng vẫn còn nhiều bộ phim vượt qua vòng kiểm duyệt và được công chiếu, có thể nhận thấy, để giải quyết triệt để việc phát tán đường lưỡi bò không chỉ dựa vào hành lang pháp lý xử lý các bên có vi phạm mà còn phại tập trung vào các quy định xử lý các cá nhân và cơ quan chức năng có thẩm quyền. Thông qua một cơ chế chịu trách nhiệm nghiêm ngặt việc kiểm tra, rà soát những vi phạm có liên quan mới được tiến hành từ nguồn, trước khi được phổ biến trong toàn thể nhân dân, đồng thời hạn chế được tình trạng “mất bò mới lo làm chuồng như hiện nay”.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Thông qua bài viết “Hành lang pháp lý đối với việc phát tán đường lưỡi bò trong kỷ nguyên số” đã cho thấy mặt trận truyền thông và thông tin cũng là một phương diện để đấu tranh bảo vệ chủ quyền. Trong thời đại kỷ nguyên số, quốc gia nào có ưu thế hơn trong việc phát triển công nghệ số sẽ có ưu thế hơn trong cuộc chiến tranh thôn tin của mình. Từ đó, bài viết cũng thấy rõ mục đích, ý đồ và những hành động phức tạp của Trung Quốc trong việc phán tán đường lưỡi bò hiện nay, điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến các định hướng và chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Bài viết cũng cũng thấy rõ hành lang pháp lý hiện hành chưa đủ để răn đe các hành vi sai phạm, từ đó tác giả đề xuất kiến nghị như sau:

Một là, cần thay đổi chế tài xử lý vi phạm đối với hoạt động này theo hướng tăng nặng. Cụ thể, các cơ quan chức năng cần xác định lại mức độ nghiêm trọng và hậu quả của việc phát tán đường lưỡi bò để hình sự hóa một số hành vi phạm tội nhằm tăng cường khả năng răn đe. Bên cạnh đó, đối với các vi phạm hành chính cần nghiên cứu khung trách nhiệm pháp lý theo hướng đối chiếu với tỷ lệ lợi nhuận mà các bên đạt được trong việc phát tán đường lưỡi bò, để từ đó đưa ra một mức xử phạt vi phạm tương xứng, tránh tình trạng nhởn nhơ, coi thường pháp luật của một số tổ chức hiện nay. Việc xử phạt cần được định lượng bằng một con số cụ thể đủ sức răn đe và làm hài lòng dư luận, nhằm tránh các trường hợp có sai phạm và đăng bài đính chính xin lỗi là xong.

Hai là, cần triển khai thực hiện nghiêm Luật Điện ảnh, trong đó, các cơ quan chức năng cần tăng cường thực thi các quy định pháp luật liên quan đến nội dung văn hóa và truyền thông, đặc biệt là hậu kiểm với phim chiếu trên không gian mạng.

Ba là, các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan như Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông, cơ quan văn hóa và truyền thông ở các địa phương, cần nắm vững vai trò và trách nhiệm của mình trong việc quản lý và kiểm soát nội dung văn hóa có liên quan đến đường lưỡi bò và các vấn đề chủ quyền. Cần tập trung và tăng cường nguồn lực để thực hiện công tác này một cách hiệu quả, đồng thời cần nâng cao cơ chế chịu trách nhiệm trước Nhà nước và Nhân dân.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Baidu, “九段线”, https://baike.baidu.com/item/%E4%B9%9D%E6%AE%B5%E7%BA%BF/2233463, truy cập ngày 28/8/2023.
  2. Công hàm số CML/11/2020, https://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mys_12_12_2019/China_Philippines_ENG.pdf, truy cập ngày 28/8/2023.
  3. Công hàm số CML/14/2019, https://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mys85_2019/CML_14_2019_E.pdf, truy cập ngày 28/8/2023.
  4. Công hàm số CML/18/2009, https://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2009re_vnm.pdf, truy cập ngày 28/8/2023.
  5. Đỗ Thiện (2023), “Xóa “ma trận” đường lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc - Bài 2 - Soi mưu đồ nguy hiểm dưới lăng kính pháp lý”, https://plo.vn/xoa-ma-tran-duong-luoi-bo-phi-phap-cua-trung-quoc-bai-2-soi-muu-do-nguy-hiem-duoi-lang-kinh-phap-ly-post742758.html, truy cập ngày 14/9/2013
  6. Hà Thanh (2019), “Mấy năm dạy giáo trình có 'đường lưỡi bò', giờ mới biết nhờ... sinh viên báo”, https://tuoitre.vn/may-nam-day-giao-trinh-co-duong-luoi-bo-gio-moi-biet-nho-sinh-vien-bao-20191102201943606.htm, truy cập ngàu 16/9/2023.
  7. Jack Lau (2022), “Chinese customs seize thousands of maps over missing South China Sea ‘nine-dash line’”, https://www.scmp.com/news/china/politics/article/3188854/chinese-customs-seize-thousands-maps-over-missing-south-china, truy cập ngày 15/9/2023.
  8. L. Thanh (2019), “Tịch thu 7 ôtô Trung Quốc có 'đường lưỡi bò' phi pháp”, https://tuoitre.vn/tich-thu-7-oto-trung-quoc-co-duong-luoi-bo-phi-phap-20191106114007925.htm, truy cập ngày 15/9/2023.
  9.  Lê Hồng Lâm (2019), “Điện ảnh Trung Quốc: Cơn khát vươn tầm lên số một thế giới”, https://tiasang.com.vn/van-hoa/dien-anh-trung-quoc-con-khat-vuon-tam-len-so-mot-the-gioi-16404/, truy cập ngày 16/9/2023.
  10. Luật Đo đạc và Bản đồ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2002.
  11.  Mai Nguyên (2019), “Trung Quốc nhấn mạnh về đường lưỡi bò trong sách giáo khoa như thế nào?”, https://tuoitre.vn/trung-quoc-nhan-manh-ve-duong-luoi-bo-trong-sach-giao-khoa-nhu-the-nao-2019080809585867.htm, truy cập ngày 14/9/2023.
  12.  Mark McDonald (2012), “A New Map in Chinese Passports Stirs Anger Across the Region”, https://archive.nytimes.com/rendezvous.blogs.nytimes.com/2012/11/25/a-map-in-chinas-new-passports-stirs-anger/, truy cập ngày 7/9/2023.
  13.  Nghị định 119/2020/NĐ-CP quy định về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản.
  14.  Nghị định 38/2021/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo.
  15.  Nguyễn Hồng Thao (2022), “Tam chủng chiến pháp của Trung Quốc và Tam công pháp của Việt Nam ở Biển Đông”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 5/2022.
  16.  Nguyễn Thùy Anh (2020), “Science journals: a new frontline in the South china sea disputes”, https://amti.csis.org/science-journals-a-new-frontline-in-the-south-china-sea-disputes/, truy cập ngày 30/8/2023.
  17.  Quý Hiên (2019), “Vụ giáo trình in ‘đường lưỡi bò’: Do đối tác Trung Quốc tặng, khoa tự ý sử dụng”, https://thanhnien.vn/vu-giao-trinh-in-duong-luoi-bo-do-doi-tac-trung-quoc-tang-khoa-tu-y-su-dung-185897898.htm, truy cập ngày 16/9/2023.
  18.  Song Hy (2021), “Nhiều thương hiệu lớn dùng bản đồ 'đường lưỡi bò' phi pháp của Trung Quốc”, https://vtc.vn/nhieu-thuong-hieu-lon-dung-ban-do-duong-luoi-bo-phi-phap-cua-trung-quoc-ar604708.html, truy cập ngày 14/9/2023.
  19.  Thanh Tùng, Hạnh Lê (2023), “Đường lưỡi bò giăng mắc trên phim ảnh và chiến dịch “tâm công” tổng lực của Trung Quốc”, https://vtc.vn/duong-luoi-bo-giang-mac-tren-phim-anh-va-chien-dich-tam-cong-tong-luc-cua-trung-quoc-ar812196.html, truy cập ngày 14/7/2023.
  20.  The Permanent Court of Arbitration (PCA) (2016), “The South China Sea Arbitration (The Republic of the Philippines v. The People’s Republic of China)”, AWARD, The Hague, 12 July 2016, http://www.pcacases.com/pcadocs/PH-CN%20-%2020160712%20-%20Award.pdf, trang 10.
  21.  Vũ Viết Tuân (2018), “Khách Trung Quốc mặc áo 'lưỡi bò' vào Việt Nam là hành vi có tổ chức”, https://tuoitre.vn/khach-trung-quoc-mac-ao-luoi-bo-vao-viet-nam-la-hanh-vi-co-to-chuc-2018051815593277.htm, truy cập ngày 15/9/2023.
  22.  陈谦平 (2016), “近代中国南海九段线的形成”, http://www.xinhuanet.com//politics/2016-03/28/c_128841638.htm, truy cập ngày 28/8/2023.